Nha đạm tử - Vị thuốc quý chữa kiết lỵ

SKĐS - Nha đạm tử là hạt trong quả chín của cây Nha đạm tử (xoan rừng), có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị lỵ, cắt cơn sốt rét…

Nha đạm tử - Vị thuốc quý chữa kiết lỵ

1. Công năng chủ trị của nha đạm tử

Nha đạm tử còn có tên khác sầu đâu rừng, khổ luyện tử, hạt khổ sâm.

Nha đạm tử là hạt trong quả chín của cây xoan rừng (Brucea javanica (L.) Merr.), thuộc họ Thanh thất (Simaroubaceae).

Thành phần hóa học của nha đạm tử có dầu, alcaloid (Brucamarin), tinh dầu, quassinoid (nhóm diterpen mạch vòng – picrasan), glucosid của quassinoid, saponin…

Tính vị quy kinh: Nha đạm tử có vị đắng, tính hàn; vào kinh can và đại tràng.

Công năng chủ trị: Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, triệt ngược, trị lỵ, cắt cơn sốt rét. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới, các dược điển và Y học cổ truyền, dùng xoan rừng chữa chứng sốt rét, kiết lỵ, chai chân, nốt ruồi, mụn cóc. Đây là loại thuốc chữa lỵ được dùng từ lâu ở nhiều nước.

Xoan rừng - vị thuốc chữa kiết lỵ hay dùng - Ảnh 2.

Cây xoan rừng.

Tại Việt Nam, có trong sách "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh (thế kỷ 17) với tên "Xoan rừng"; tại Trung Quốc có trong sách "Bản thảo thập di" của Triệu Học Mẫn (1765) với tên Nha đạm tử.

Liều dùng: Người lớn, mỗi lần dùng 10 đến 15 hạt trị sốt rét; 10 đến 30 hạt trị lỵ amíp.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư yếu, hay nôn mửa kiêng dùng. Phụ nữ có thai và trẻ nhỏ không nên dùng.

2. Một số ứng dụng lâm sàng của nha đạm tử

2.1 Chữa lỵ amíp cấp

+ Nha đạm tử, hoàng liên gai, hạt dưa hấu, bồ kết, hạt cau, đại hoàng, mỗi vị 20g. Tán thành bột. Mỗi ngày uống 20g, chia làm 2 lần.

+ Nha đạm tử, hoàng liên gai, trần bì, ngô thù du, binh lang, mỗi vị 100g, anh túc xác 20g. Tán bột làm viên. Mỗi ngày uống 20g, chia làm 2 lần.

Xoan rừng - vị thuốc chữa kiết lỵ hay dùng - Ảnh 3.

Vị thuốc nha đạm tử.

2.2 Chữa lỵ amíp mạn tính (có máu mủ, lúc ngưng lúc phát)

+ Nha đạm tử nhân, mỗi lần uống 10 – 15 hạt (cho vào nang). Mỗi ngày uống 3 lần. Đợt điều trị 1 tuần.

+ Nha đạm tử 20 hạt nghiền vỡ, ngâm trong 200 ml dung dịch natri bicacbonat 1%. Hút dịch thụt vào hậu môn, cách 1 ngày thụt một lần; làm 4 – 5 lần. Trị lỵ amíp cấp và mạn tính.

+ Đơn Giải độc sinh hóa: Nha đạm tử 10 hạt, bột tam thất 4g, kim ngân hoa 16g, cam thảo 8g. Uống nha đạm tử với bột tam thất, sau đó chiêu bằng nước sắc của các vị kia. Trị lỵ mạn tính lâu ngày không ngừng.

2.3 Cắt cơn sốt rét

Nha đạm tử nhân 10 đến 15 hạt, cho vào nang, uống với nước, ngày 2 – 3 lần. Dùng cho chứng sốt cách 2 ngày hoặc 3 ngày (cách nhật).

Thuốc có tác dụng với cả sốt rét ác tính; còn có tác dụng với bệnh trùng hút máu (Ochistosomiasis) thời kỳ đầu, đi lỵ có máu mủ nhưng đợt điều trị kéo dài hơn.

Xem thêm video đang được quan tâm: