Cường điệu hóa nỗi lo về ngoại hình: Một dạng rối loạn tâm thần thể chất

SKĐS - Thường đứng trước gương để kiểm tra khiếm khuyết nhỏ trên mặt, tự so sánh khiếm khuyết của mình với người khác...

Cường điệu hóa nỗi lo về ngoại hình: Một dạng rối loạn tâm thần thể chất

Dấu hiệu thường gặp của rối loạn mặc cảm ngoại hình

Đó là kết quả nghiên cứu y học do các bác sỹ Trần Vũ Anh Đào, Trần Nguyên Ánh Tú cùng các cộng sự tại Khoa Thẩm mỹ Da và bác sĩ Nguyễn Trọng Hào - Giám đốc BV Da liễu TP.HCM thực hiện tại Khoa Thẩm mỹ Da. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 đến tháng 6/2020 với 173 bệnh nhân đến khám và điều trị tại đây.

Các bác sỹ cho biết, rối loạn mặc cảm ngoại hình (BDD - body dismorphic disorder questionnaire) là bệnh lý biểu hiện bởi tình trạng chú ý quá mức đến những thay đổi nhỏ trên cơ thể. Dữ liệu gần đây cho thấy, tỷ lệ bệnh lý này khá cao ở nhóm bệnh nhân làm thẩm mỹ. Bên cạnh những bệnh nhân có các vấn đề thẩm mỹ thật sự cần để giải quyết, một số lượng không nhỏ những bệnh nhân lại tỏ ra buồn rầu và mặc cảm với những khiếm khuyết không đáng kể về bề ngoài của mình. Do đó, dù đã can thiệp thẩm mỹ, họ vẫn không cảm thấy hài lòng với kết quả đạt được. Những bệnh nhân này nỗi lo lắng về ngoại hình trở nên quá mức và bị cường điệu hóa. Đây là biểu hiện chính của tình trạng rối loạn mặc cảm ngoại hình, được phân vào nhóm rối loạn tâm thần dạng thể chất trong phiên bản gần đây của DSM-5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental disorder -5. Tạm dịch: Chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần phiên bản thứ 5).

Qua các nghiên cứu trên thế giới, tần suất rối loạn mặc cảm ngoại hình trong dân số chung khoảng 2%, thì ở những bệnh nhân có vấn đề về da tổng quát dao động khoảng 8,5-15%, ở những bệnh nhân tìm kiếm can thiệp thẩm mỹ khoảng 2,9-53,6%. Tại Việt Nam, nghiên cứu y học này là nghiên cứu đầu tiên để xác định tỷ lệ rối loạn mặc cảm ngoại hình ở người bệnh.

Theo đó, bệnh nhân đến khám tại Khoa Thẩm mỹ Da, BV Da liễu, trong thời gian chờ đến lượt khám đồng ý tham gia nghiên cứu đã trả lời câu hỏi tầm soát rối loạn mặc cảm ngoại hình cũng như tiêu chuẩn B-DSM5 (Diagnostic and Statistical Manual of mental disorder-5, bảng hỏi gồm 20 câu hỏi được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt để bệnh nhân tự đánh giá, trả lời). Một bác sỹ da liễu khác được phân công đánh giá mức độ khuyết điểm mà bệnh nhân quan tâm nhất dựa trên thang điểm 5-point-likert (5 thang điểm để đánh giá mức độ khiếm khuyết gồm: Không có vấn đề; khiếm khuyết nhỏ, mức độ nhẹ, khó nhận thấy; có khiếm khuyết thấy rõ khi nhìn gần; khiếm khuyết trung bình; khiếm khuyết trầm trọng).

Cường điệu hóa nỗi lo về ngoại hình

Bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn mặc cảm ngoại hình khi chỉ với khiếm khuyết được đánh giá ở thang điểm 1, và 2 (không có vấn đề; khiếm khuyết nhỏ, mức độ nhẹ khó nhận thấy) nhưng bệnh nhân vẫn lo lắng. Ba biểu hiện chính của người bị rối loạn mặc cảm ngoại hình: Thường đứng trước gương để tự kiểm tra khiếm khuyết của mình, tự so sánh khiếm khuyết của mình với người khác, thường hỏi người khác về khiếm khuyết của mình.

11/173 người bị rối loạn mặc cảm ngoại hình

Kết quả, trong khoảng thời gian 2 tháng, tháng 4-6/2020, trong số 173 bệnh nhân khi đến khám tại Khoa Thẩm mỹ Da đồng ý tham gia nghiên cứu đều có những vấn đề về thẩm mỹ, ngoại hình, và mức độ khiếm khuyết có sự khác nhau. Cụ thể, bệnh nhân có độ tuổi trung bình khoảng 31 tuổi, nữ chiếm 82,66%; 72,83% bệnh nhân sinh sống và làm việc tại TP.HCM; 82% bệnh nhân có trình độ từ cấp 3 trở lên; 74,57% bệnh nhân có vấn đề thẩm mỹ ở vùng mặt cổ; 85% bệnh nhân có những khiếm khuyết thẩm mỹ được đánh giá từ mức 3 trở lên. Rối loạn sắc tố chiếm tỷ lệ bệnh nhân đến khám đông nhất (41,04%), tiếp đến là sẹo lồi (21,4%), mụn trứng cá (19,65%) và các bệnh lý khác. 87,2% bệnh nhân chưa điều trị gì trước đó hoặc dùng thuốc thoa tại chỗ. 53,76% bệnh nhân được các bác sỹ thăm khám và chỉ định điều trị bằng thuốc hoặc các phương pháp thẩm mỹ không xâm lấn.

Trong đó, dựa trên các tiêu chí chẩn đoán, các bác sỹ đã ghi nhận có 11 trường hợp bệnh nhân có tình trạng rối loạn mặc cảm ngoại hình, chiếm 6,36% với tỷ lệ nam nữ 1:4,5. Các bệnh nhân có độ tuổi trung bình khoảng 30 tuổi, có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên và không có tiền căn gia đình mắc bệnh tâm thần. Bệnh nhân gặp các vấn đề: mụn trứng cá, sẹo lồi, sạm da, vấn đề mạch máu, vấn đề lỗ chân lông to.

Trong các tiêu chuẩn đánh giá rối loạn mặc cảm ngoại hình, 11 bệnh nhân này thường xuyên lặp lại các hành vi: Thường đứng trước gương để tự kiểm tra khiếm khuyết của mình (100%), tự so sánh khiếm khuyết của mình với người khác (90,91%), thường hỏi người khác về khiếm khuyết của mình (54,55%).

Với nghiên cứu trên, các bác sỹ nhận định tần suất rối loạn mặc cảm ngoại hình ở những bệnh nhân đến khám và có nhu cầu điều trị thẩm mỹ cao hơn so với dân số chung (nhiều nghiên cứu trên thế giới tỷ lệ rối loạn mặc cảm ngoại hình trong dân số chung chỉ khoảng 2%).

Đối với những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể sống tách biệt với xã hội, chất lượng cuộc sống giảm, thậm chí có ý định tự tử. Do đó các bác sỹ da liễu cần chú ý đến những đặc điểm của các bệnh nhân này để có hướng điều trị thích hợp.

 

CÓ Ý ĐỊNH TỰ SÁT KHI NỔI MỤN
“Trong 11 bệnh nhân của chúng tôi, có 1 bệnh nhân nữ bị mụn nhẹ nhưng có ý định tự sát (muốn nhảy lầu) mỗi khi có 1 nốt mụn nổi lên. Bệnh nhân cảm giác tự ti, không muốn đi làm và không muốn giao tiếp với ai. Mỗi ngày bệnh nhân mất hơn 3 giờ đồng hồ để đi mua trái cây về ăn cho da đẹp. Bệnh nhân thường xuyên đến khám tại khoa của chúng tôi và than phiền về tình trạng mụn của mình. Ý muốn tự sát là biểu hiện nặng của rối loạn mặc cảm ngoại hình. Chúng tôi đã hướng dẫn người bệnh đi khám chuyên khoa tâm thần song bệnh nhân không đồng ý”- nhóm bác sỹ thực hiện nghiên cứu cho biết.

 

HOÀI THƯƠNG (ghi)